Ngày 25 tháng 10 năm 2007

Hoa Kỳ từ chối 63 lô hàng thực phẩm xuất xứ từ Việt Nam

(RFA, Oct 23, 2007)

Hàng thực phẩm Việt Nam, đặc biệt là thuỷ hải sản tiếp tục vứơng rào cản vệ sinh an toàn thực phẩm tại thị trường Hoa Kỳ. Nam Nguyên trình bày thông tin này:

Trong quí 3 tức 3 tháng 7-8-9 năm 2007, Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ FDA tiếp tục từ chối 63 lô hàng thực phẩm xuất xứ Việt Nam. Trứơc đó trong 6 tháng đầu năm nay FDA đã trả về Việt Nam hơn 240 lô hàng đa số là thuỷ hải sản như ghẹ cua cá và thực phẩm chế biến.

Cũng như những tháng trứơc, trong quí 3 này phần lớn các lô hàng bị FDA từ chối là thuỷ hải sản không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui định của chính phủ Hoa Kỳ. Kết quả xét nghiệm cho thấy rất nhiều lô hàng bị nhiễm vi khuẩn nhóm Samonella, kế tiếp là dư lượng kháng sinh Chloramphenicol hay dơ bẩn hoặc có độc chất.

Theo thông tin trên mạng của FDA Hoa Kỳ, trong số các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản VN bị vướng dư lượng kháng sinh Chloramphenicol nhiều lần, phải kể tới Seaspimex trong hệ thống Seaprodex, doanh nghiệp có bề dày hơn 20 năm ở TPHCM. Trong ba tháng 7, 8 , 9/2007 Seaspimex bị vứơng tổng cộng 10 lô hàng ghẹ đóng hộp có dư lượng kháng sinh Chloramphenicol. (Xem tiếp...)

Ngày 09 tháng 10 năm 2007

EU đánh giá cao vệ sinh chế biến thủy sản của VN

(TTO, 09/10/2007)

Đoàn thanh tra Liên minh châu Âu (EU) đã có những nhận xét tốt về việc kiểm soát an toàn vệ sinh tại các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu vào EU của Việt Nam, cũng như việc sửa chữa, khắc phục lỗi của cơ sở chế biến đối với các khuyến cáo mà EU đưa ra.

Ngày 8-10, đoàn thanh tra EU đã làm việc với Cục Quản lý Chất lượng, An toàn Vệ sinh và Thú y Thủy sản Việt Nam nhằm tổng kết chuyến công tác đánh giá điều kiện an toàn vệ sinh đối với xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ và các sản phẩm thủy sản của Việt Nam sang EU.

Theo đó, đoàn đã đánh giá cao việc kiểm soát an toàn vệ sinh các vùng thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ tại Cần Giờ (TP.HCM) và Kiên Lương (Kiên Giang), với việc khoanh vùng, giám sát vùng nuôi, thu hoạch và vận chuyển về nhà máy chế biến, việc kiểm soát và thu hoạch.

Theo đoàn thanh tra, các nhà máy chế biến và xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ cũng đáp ứng tốt quy định của châu Âu.

Trong chuyến công tác này, đoàn thanh tra EU đã kiểm tra Trung tâm Chất lượng, An toàn Vệ sinh và Thú y Thủy sản vùng tại Nha Trang và Cà Mau, Chi cục quản lý chất lượng và thú y thủy sản địa phương, Phòng kiểm nghiệm của Trung tâm vùng tại Nha Trang, cảng cá Hòn Rớ (Nha Trang) và cảng cá Cát Lở (Bà Rịa-Vũng Tàu), hai cơ sở sản xuất nước đá và ba tàu cá, các nhà máy chế biến thủy sản, đại lý thu mua nguyên liệu và cơ sở nuôi tôm.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lương Lê Phương khẳng định sẽ nhanh chóng chấn chỉnh việc quản lý và kiểm soát đối với khâu trước chế biến thủy sản, nhằm đáp ứng các yêu cầu và quy định về an toàn vệ sinh của châu Âu, đồng thời nâng cao chất lượng hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường này.

Ngày 22 tháng 09 năm 2007

Kiểm tra chất lượng thủy sản

(Tuổi Trẻ, 21/09/2007)

Theo Hiệp hội Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản VN cho biết từ ngày 27-9, đoàn thanh tra EU sẽ đến VN để kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh trong chế biến thủy sản xuất khẩu sang thị trường châu Âu của VN.

VN hiện có 245 cơ sở chế biến thủy sản đáp ứng được các tiêu chuẩn của EU và được phép xuất khẩu sản phẩm sang thị trường này. Đợt kiểm tra của EU sẽ kéo dài đến ngày 8-10.

Đ.PHÚC

Quyết định sơ bộ mức thuế mới với cá tra, basa

(VietNamNet, 21/09/2007)

Sau đợt đánh giá hành chính về thuế chống bán phá giá đợt ba, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) mới đây đã công bố mức thuế sơ bộ mới cho giai đoạn từ 1/8/2005 đến 31/7/2006 đối với các DN Việt Nam. Kết quả cuối cùng có sau khoảng 4 tháng nữa. (Xem tiếp...)

Cách xử lý mẫu trong quy trình xét nghiệm nhanh Chloramphenicol bằng dụng cụ CAP-203

1. Cá:
- Rửa sạch
- Bỏ phần vảy, da bên ngoài
- Bỏ phủ tạng
- Cắt lấy phần thịt, cả ở lưng và bụng
- Nghiền trộn đều

2. Động vật có mai (rùa, ba ba…)
- Rửa sạch
- Bỏ đầu, cho chảy hết máu
- Lấy một ít cơ và cả phần mai sau khi đã xay nghiền kỹ
- Nghiền trộn đều

3. Tôm
- Rửa sạch
- Bỏ đầu, vỏ ngoài
- Lấy phần thịt
- Nghiền trộn đều

4. Sò, hàu, nghêu và các loại tương tự
- Rửa sạch
- Tách vỏ
- Trộn đều phần thịt và phần dịch cơ thể
- Nghiền trộn đều

5. Cua
- Rửa sạch
- Tách vỏ
- Lấy phần thịt và cả tuyến sinh dục
- Nghiền trộn đều

Không để trộn lẫn các mẫu khác nhau với nhau.

Trước khi xử lý một mẫu mới, cần rửa sạch các dụng cụ, bao gồm dụng cụ cắt, xay, muỗng cân…

Trong khi xử lý mẫu, cần đánh số các ống ly tâm, ống nghiệm với các mẫu tương ứng để tránh nhầm lẫn.

Các dụng cụ xử lý mẫu cần được làm sạch trong ngày. Rửa trước với xà phòng hoặc chất tẩy rửa, rửa lại dưới vòi nước máy, và cuối cùng rửa lại thật sạch với nước tinh khiết.

Một số lưu ý trong quy trình xét nghiệm nhanh Chloramphenicol bằng CAP-203

(Vui lòng đọc kỹ quy trình chi tiết trước khi đọc bài này).
Sau nhiều thử nghiệm, chúng tôi đưa ra một số cải tiến để quý doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản không còn phải bận tâm nhiều về vấn đề đầu tư thiết bị ban đầu để có thể thực hiện kiểm tra dư lượng Chloramphenicol bằng dụng cụ CAP-203 nữa.

1/
Máy thổi khí Nitơ + bể điều nhiệt (800-3000 USD):

Khí Nitơ được ưu tiên sử dụng vì có tính trơ, tránh gây ảnh hưởng và phản ứng gây biến đổi chất phân tích.

Tuy nhiên ở nhiệt độ 60-70oC kết hợp với dòng khí thổi, chúng ta có thể dùng dụng cụ sấy tóc để tiết giảm chi phí thay cho hệ thống thổi khí Nitơ đắt tiền.

Thử nghiệm với máy sấy tóc, thổi trực tiếp vào dung dịch ethyl acetate cần làm khô. Kết quả: 10ml dung môi bay hơi hoàn toàn sau 15 phút.


2/
Máy ly tâm (800-3500 USD):
Có tác dụng đẩy nhanh đáng kể quá trình chiết tách Chloramphenicol từ mẫu bằng ethyl acetate. Trong điều kiện có nhiều thời gian và chưa trang bị được máy ly tâm, chúng ta có thể để lắng tách lớp tự nhiên. Dung dịch ethyl acetate sẽ tách lớp (phía trên) sau khi để lắng khoảng 3 giờ đến qua đêm tùy thuộc vào tính chất riêng của từng loại mẫu thử.
- Để dễ thực hiện việc hút dung dịch ethyl acetate sau khi tách lớp (phía trên), nên cho vào 1 ống có tiết diện hẹp trước khi để lắng.
- Nếu phần mẫu gây khó khăn cho việc rút lớp dung dịch ethyl acetate (phía trên) do nằm lấn lên trên lớp phân cách, hãy thêm vào một lượng nước để đẩy lớp phân cách lên trên.

3/ Dung dịch bị nhũ hóa giai đoạn cuối:
- Nguyên nhân: có thể do lượng mỡ hoặc/ và các tạp chất khác vẫn còn tồn tại trong cặn sau khi thổi khô ethyl acetate vì:
+ Ly tâm không đủ tốc độ hoặc/ và thời gian.
+ Quá trình hút dung dịch ethyl acetate sau khi tách lớp quá sát lớp phân cách, lấy luôn cặn trong lớp bên dưới.
+ Một vài tạp chất có tính khả năng nhũ hóa và tan trong ethyl acetate.
- Cách xử lý: có thể hạn chế bằng cách:
+ Xử lý nhanh bằng cách nhúng lọ đựng dung dịch nhũ hóa vào nước nóng 80-90oC trong thời gian ngắn, lắc nhẹ. Hoặc:
+ Ly tâm
dung dịch để tách lớp
Nếu nhũ dịch vẫn không tách lớp được, cần phải thực hiện lại quy trình từ đầu.
+ Rửa sạch mẫu trước khi đưa vào xử lý để loại tạp chất.
+ Xử lý mẫu lại thật cẩn thận, nhất là quá trình lắc trộn, ly tâm và hút lớp ethyl acetate sau khi tách lớp.
+ Có thể không cần thêm n-Hexane, hoặc chỉ sử dụng rất ít.

Không nên thêm dung dịch PBST vào vì có thể phá nhũ hóa được nhưng lại làm lệch kết quả do thay đổi nồng độ.

Các thắc mắc khác có liên quan đến vấn đề này, xin vui lòng liên hệ với công ty phân phối để được tư vấn cụ thể và chi tiết.

Thông tin tóm tắt sản phẩm CAP-203

1. TÊN THƯƠNG MẠI: Chloramphenicol Residue Rapid Inspection Test Device

2. NHÀ SẢN XUẤT: Hangzhou Nankai Biotech Co., Ltd.

3. NƯỚC XUẤT KHẨU: Trung Quốc

4. MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG:
Dụng cụ phát hiện nhanh dư lượng Chloramphenicol là một dụng cụ kiểm tra nhanh, chỉ 1 bước duy nhất để định lượng Chloramphenicol có trong mô, bao gồm: thịt, tôm, cá… Tổng thời gian thực hiện xét nghiệm bằng dụng cụ này chỉ vào khoảng 25 phút.

5. TÓM TẮT:
Chloramphenicol là một loại kháng sinh phổ rộng, nó được sử dụng thường xuyên cho quá trình chế biến thực phẩm có nguồn gốc động vật nhờ có các đặc tính kháng khuẩn và dược động học tuyệt vời của nó.
Tuy nhiên, trong cơ thể người nó lại có thể gây ra những độc tính huyết học, cụ thể là thiếu máu biến dạng với 1 hàm lượng nào đó chưa được xác định rõ. Điều này dẫn đến việc Chloramphenicol đã bị cấm sử dụng trong việc điều trị cho súc vật dùng làm nguyên liệu chế biến thực phẩm.
Dư lượng Chloramphenicol trước đây thường được phát hiện bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ (radioimmunologically) hoặc sắc ký khí (gas chromatographically). Tuy nhiên, xét nghiệm miễn dịch men (enzyme immunoassay) lại cho thấy các ưu điểm rõ rệt so với các phương pháp truyền thống. Không cần dùng đến các nguyên liệu phóng xạ, cũng như thời gian thực hiện xét nghiệm giảm đáng kể so với khi thực hiện phương pháp sắc ký khí.
Dụng cụ phát hiện nhanh dư lượng Chloramphenicol là một dụng cụ kiểm tra nhanh để định lượng Chloramphenicol có trong mẫu thử với độ nhạy 0,1 ppb. Ưu điểm chính của dụng cụ này là kết quả có thể được quan sát bằng mắt thường và tất cả các thuốc thử đều đã bao gồm trong dụng cụ.

6. NGUYÊN LÝ:
Nguyên tắc của xét nghiệm này là phản ứng kháng nguyên - kháng thể. Xét nghiệm nhanh bằng 1 bước duy nhất này là một xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh, trong đó chất dò (detector reagent) bao gồm những mảnh vàng keo (colloidal gold) được tráng phủ bởi các kháng thể kháng Chloramphenicol tinh khiết ái lực. Trong khi đó chất phát hiện (capture reagent) là một phức hợp Chloramphenicol-protein được đính trên màng của dụng cụ xét nghiệm. Trong quá trình xét nghiệm, mẫu thử đi qua màng này. Càng có nhiều chất phân tích trong mẫu thử, chúng sẽ càng cạnh tranh mạnh hơn với Chloramphenicol đính trên màng để gắn kết với các kháng thể của chất dò (có số lượng giới hạn). Chloramphenicol, nếu tồn tại trong mẫu thử với hàm lượng trên 0,1 ppb sẽ ngăn chặn sự gắn kết của chất dò với Chloramphenicol đính trên màng, cho ra kết quả dương tính.

7. HIỆU SUẤT :
Độ nhạy:
Độ nhạy phân tích của dụng cụ phát hiện nhanh dư lượng Chloramphenicol là 0,1 ppb. Độ nhạy đã được xác định bằng cách thử lặp đi lặp lại các mẫu thử chứa 0,1 ppb Chloramphenicol.

Đặc trưng:
Dụng cụ phát hiện nhanh dư lượng Chloramphenicol đặc trưng bởi việc phân tích Chloramphenicol với nồng độ 0,1 ppb hoặc lớn hơn. Việc thêm Thiamphenicol (100ppb) và Florfenicol (3000 ppb) vào dịch chuẩn âm tính (dung dịch đệm PBST) và các mẫu thử dương tính (0,1 ppb Chloramphenicol) cho thấy không có phản ứng chéo.
Không phản ứng chéo với với tetracycline, gentamicin hoặc ampicillin.

Độ chính xác:
Một thử nghiệm đa trung tâm đã được thực hiện để so sánh kết quả xét nghiệm thực hiện bằng Dụng cụ phát hiện nhanh dư lượng Chloramphenicol với kết quả xét nghiệm thực hiện bằng phương pháp tương đối thông dụng trên thị trường là ELISA. Nghiên cứu thực hiện trên cùng 234 mẫu xét nghiệm: cả hai phương pháp xét nghiệm đều nhận dạng đúng 145 mẫu âm tính và 98 mẫu dương tính. Kết quả cho thấy 94,7% trùng hợp giữa hai phương pháp xét nghiệm.

8. SO SÁNH ƯU ĐIỂM CỦA GICA VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC
Hầu hết các phương pháp nói trên đều có độ chính xác cao và đã được sử dụng như phương pháp chuẩn quốc gia ở nhiều nước, đặc biệt là sắc ký khí. Tuy nhiên, nhiều phương pháp không thích hợp cho việc sử dụng thường xuyên tại các công ty vừa và nhỏ, cũng như không tiến hành xét nghiệm ngoài trời được (phải làm trong phòng thí nghiệm với các điều kiện môi trường nhất định).
NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC:
- Đắt tiền: thiết bị phát hiện (đọc kết quả) rất đắt tiền. Điển hình như máy sắc ký khí lên đến cả triệu USD, loại rẻ nhất cũng vào khoảng 30.000 USD, hoặc các thiết bị cho Elisa cũng lên đến 15.000-20.000 USD.
- Vận hành: phức tạp, mất nhiều thời gian, quy trình nhiều bước phức tạp và cần một vài nhân viên vận hành có trình độ và kỹ năng nhất định.
- Điều kiện môi trường: do các thiết bị máy móc tinh vi, việc xử lý mẫu thử rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về nhiệt độ phòng, độ ẩm, thông khí, độ chiếu sáng, hạn chế tối đa các chất tự do trong không khí có thể gây nhiễm môi trường xét nghiệm. Từ các yêu cầu đó, cần phải trang bị phòng vô trùng, tủ đặc biệt thiết kế riêng để đựng dụng cụ, máy xử lý rác & chất thải… và nhất thiết phải thực hiện các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đầy đủ các điều kiện này.
ELISA là phương pháp tương đối ít tốn chi phí hơn so với các phương pháp khác như HPLC, GC nhưng để vận hành cũng cần nhân viên vận hành có trình độ và kỹ năng, cũng như đòi hỏi các yêu cầu về tiêu chuẩn phòng thí nghiệm nghiêm ngặt.

ƯU ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM NHANH GICA
Phương pháp GICA được sử dụng rộng rãi ngoài trời (không cần thực hiện trong phòng thí nghiệm). Phương pháp này được phát triển từ những năm 1990, bằng cách kết hợp kháng thể đơn dòng với kỹ thuật vàng keo, là một kỹ thuật mới. Kỹ thuật này được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán và trong công nghệ hóa học, để phát hiện những bệnh gây ra bởi virus như syphilis hay HIV, cũng như phát hiện các chất gây nghiện. Phương pháp này thật sự hiệu quả, nhanh, chính xác và dễ thực hiện. Với sự tăng nhanh của các vấn đề trong thú y và thực phẩm, xã hội cần có phương pháp tốt hơn để giải quyết, và phương pháp xét nghiệm nhanh GICA đã ra đời trong hoàn cảnh đó.
Các ưu điểm của phương pháp này:
- Sử dụng đơn giản, không cần phải có trình độ hoặc kỹ năng đặc biệt.
- Không cần trang bị kiến thức đặc biệt, chỉ cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi thực hiện
- Rẻ tiền, và không cần phải trang bị các máy móc đắt tiền và chuyên dùng. Kết quả dễ xem xét và đánh giá.
- Có thể thực hiện ngoài trời, tại điểm thu mua/ thanh tra.
- Tiết kiệm thời gian: chỉ cần vài phút để đọc kết quả.
- Chính xác: phát hiện chính xác đến ngưỡng của các thiết bị thông dụng hiện nay, và tương thích với các quy định hiện hành trên thế giới.
- Sạch và an toàn: không gây hại cho sức khỏe người, súc vật và môi trường.
- Dễ bảo quản: bảo quản trong điều kiện bình thường, ở nhiệt độ phòng.

(Các bài khác có liên quan, xem tại đây...)